Thiền Tông

Khái niệm về thiền:

Trong một ý niệm giải thích về Thiền, Thiền Sư Vô Ngôn Thông đã phát biểu: Thiền hay Thiền Sư không phải là một cái gì có thể định nghĩa được, như cây thoan lư kia, nhìn thẳng vào đó thì thấy ngay, khỏi cần qua trung gian ngôn ngữ và khái niệm. Thiền là sự tỉnh thức, sự sinh hoạt trong thế giới thực tại, chỉ có thể thể nghiệm mà không thể đàm luận và giảng giải. (VNPG Sử Luận).

12438967_466098573575793_6272525295543943109_nTìm hiểu về Thiền Tông, trường phái Trúc Lâm Yên Tử

Thiền Tông, trường phái Trúc Lâm Yên Tử có sơ Tổ là Phật Hoàng Trần Nhân Tông, hiện nay được HT Thích Thanh Từ khôi phục trở lại.

Trường phái thiền này không so sánh Đại Thừa, Tiểu Thừa chỉ thừa kế phần thiền chính thống, còn được gọi là Thiền Tông kể từ đức Phật truyền qua các đời Tổ Sư.

Tổ đầu tiên là ngài Ca Diếp. Đức Phật trao truyền cho Tổ Ca Diếp qua hình tượng đức Phật nâng cành hoa sen lên, rồi rảo mắt khắp đại chúng, cả đại chúng khi đó đều ngơ ngác, riêng chỉ có ngài Ca Diếp là mỉm cười. Ngay đây được Phật truyền trao tâm ấn. Ngài Ca Diếp chính là đã nhận trở lại tánh hay thấy, tánh hay biết vốn sẵn nơi mình từ bao đời nay. Tánh hay thấy, thấy có sáng, thấy có tối-không phải không thấy, nếu nói không thấy thì làm sao biết được đang sáng hay đang tối; thấy có vật, thấy không có vật-không phải không thấy, nếu nói không thấy thì làm sao biết được có vật hay không có vật trước mắt. Tánh hay biết, biết có vọng niệm, biết không có vọng niệm-không phải không ngơ; biết có vật, biết không có vật-không phải không biết. Tánh hay thấy là khi thấy cành hoa sen chỉ nhìn cành hoa sen như nó đang là, không khởi ý phân biệt khen đẹp, chê xấu, để không rơi vào thích, hay ghét bỏ, để không khởi lên sân hận khi muốn có cành hoa sen mà không được như ý, hay muốn chối bỏ cành hoa sen mà không được như ý. Tánh hay biết là hay biết mọi sự vật, hiện tượng như nó đang là mà không khởi ý phân biệt.

Tổ thứ hai là ngài Anan. Khi ngài Anan hỏi ngài Ca Diếp: “Ngoài y bát ra Thế Tôn còn trao truyền gì khác cho sư huynh?”. Ngài Ca Diếp bèn lớn tiếng gọi: “Anan!”. Ngài Anan giật mình trong thoáng chốc, ngài Ca Diếp bèn bảo tiếp: “Cây phướn trước sân ngã!”. Ngay đây, ngài Anan đạt ngộ. Ngài chính là đã nhận trở lại tánh hay nghe, tánh hay biết vốn sẵn nơi mình từ bao đời nay. Tánh hay nghe, nghe có tiếng thanh, nghe không có tiếng thanh-không phải không nghe, nếu nói không nghe thì làm sao biết có hay không có tiếng thanh. Tánh hay nghe là khi nghe một thanh âm chỉ nghe thanh âm đó như nó đang là, không khởi ý phân biệt khen hay, chê dở, để không rơi vào thích, hay ghét bỏ, để không khởi lên sân hận khi muốn tiếp tục được nghe thanh âm đó mà không được như ý, hay muốn thoát khỏi, không nghe thanh âm đó nữa mà không được như ý.

Tánh hay thấy, tánh hay nghe, tánh hay biết (các tánh này còn được gọi là thức tinh nguyên minh) gần kề cái chân thật (gần kề chơn tâm, Phật tánh, bản giác thường trụ diệu minh, còn được gọi là mặt trăng chân chính), song chưa hoàn toàn thật, ví như mặt trăng thứ hai, ví như ấn tay lên con mắt khi đang nhìn mặt trăng chân chính, bèn xuất hiện bóng mặt trăng thứ hai lóe ra bên cạnh mặt trăng chân chính. Thức tinh nguyên minh tuy chưa phải là chân tâm, vì còn đeo vọng kiến, còn năng giác sở giác, nhưng thật không lìa chân tâm, vốn vẫn tịch thường viên thông. Chính là nguồn sống hằng ngày chúng ta không thể rời, nó lưu lộ ở sáu căn. Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, tuy sáu công dụng khác nhau nhưng đồng một thể tinh minh. Như trong nhà có đèn, ánh sáng tỏa ra khắp các cửa. Cửa có nhiều loại vuông, tròn, rộng, hẹp, cao, thấp. Ánh sáng tỏa ra thành sáu hình sai khác nhưng ở trong nhà chỉ có một đèn. Đêm tối ở xa muốn cầu đèn, cần nương một ánh sáng mà vào. Cũng thế, muốn trở về bản giác thường trụ diệu minh, hay chơn tâm, Phật tánh nên y theo tánh thấy hoặc tánh nghe, hay tánh biết, một trong sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà bội trần hợp giác. Tu hành nhận ra các tánh trên, cần thêm một bước vượt qua tâm thái này, nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng cần phải một bước nhảy qua, như khi trèo lên cây một trăm thước, khi trèo lên là còn có cây để trèo, trèo tới đầu sào chót ở trên, phải nhảy qua khỏi mới được, nhảy khỏi cho tan nát tâm phân biệt, chấp trước vi tế, để không rơi vào không, năng giác sở giác đều không, mọi thứ đối đãi dứt bặt, nhảy qua khỏi liền thể nhập vào bản tâm hằng thanh tịnh, rỗng rang, và sáng tỏ, hay còn gọi là chơn tâm, Phật tánh, mặt trăng chân chính, thường hay biết mọi sự vật, hiện tượng nhưng không khởi ý phân biệt, tựa như một tấm gương trong sáng có thể hiện hình rõ ràng mọi cảnh vật sai khác xung quanh mà không một mảy may khởi ý phân biệt.

Các Tổ truyền thừa nối tiếp nhau qua hai mươi tám đời ở Ấn Độ, đời thứ hai mươi tám là ngài Bồ Đề Đạt Ma. Ngài sau đó đã qua Trung Hoa truyền thừa. Tổ thứ hai bên Trung Hoa là ngài Huệ Khả. Khi đó ngài Huệ Khả thưa: “Tâm con không an, xin chỉ cho con pháp an tâm”. Ngài Bồ Đề Đạt Ma bèn bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả liền quay vào tìm tâm bất an, nhưng càng tìm càng thấy nó tan mất, ngài bèn trả lời: “Con tìm tâm không được”. Ngài Bồ Đề Đạt Ma bèn bảo: “Ta đã an tâm cho con rồi!”. Ngay đây, ngài Huệ Khả đạt ngộ. Khi ngài quay vào soi rọi lại tâm tư, soi đến đâu vọng tưởng, xúc cảm thị phi tan đến đó, ngài liền nhận trở lại tánh hay biết không rơi vào đối đãi nhị nguyên, chỉ thường hằng hay biết mọi dấy khởi của tâm. Biết đường lối tu hành như vậy, ngài Huệ Khả ngày đêm tinh tấn tu hành, cho đến một ngày nọ, ngài thưa với Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Thưa hòa thượng, con nay sạch hết các duyên”. Tổ Bồ Đề Đạt Ma bèn bảo: “Coi chừng rơi vào không”, ngài Huệ Khả bèn thưa: “Rõ ràng thường biết làm sao không được”. Ngay đây, Tổ Bồ Đề Đạt Ma ấn chứng: “Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế”. Ngài Huệ Khả chính là đã đi từ tánh hay biết tiến thẳng vào chơn tâm, Phật tánh, tâm thái này tựa như một tấm gương trong sáng có thể hiện hình rõ ràng mọi cảnh vật sai khác xung quanh mà không một mảy may khởi ý phân biệt.

Tổ thứ ba ở Trung Hoa là ngài Tăng Xán. Khi gặp Tổ Huệ Khả, ngài thưa rằng: “Con bị ghẻ lở là do tội lỗi đã tạo nên, xin ngài sám tội cho con”. Ngài Huệ Khả bèn bảo: “Đem tội ra ta sám cho”. Ngài Tăng Xán liền quay vào tìm tội, nhưng càng tìm, thì những ý nghĩ, hình ảnh về tội lỗi càng tan mất, ngài bèn thưa: “Con tìm tội không được”. Ngài Huệ Khả bèn bảo: “Ta đã sám tội cho con rồi”. Ngay đây ngài Tăng Xán đạt ngộ. Ngài đã nhận lại tánh hay biết vốn đã sẵn nơi mình từ bao đời nay tương tự như cách thức ngài Huệ Khả ngày nào.

Tổ thứ tư ở Trung Hoa là ngài Đạo Tín. Khi gặp Tổ Tăng Xán, ngài thưa: “Xin hòa thượng ban cho con pháp giải thoát”. Ngài Tăng Xán bèn bảo: “Ai trói buột ông?”. Ngài Đạo Tín bèn quay vào tìm xem có ai trói buột mình, nhưng càng tìm càng thấy bao vọng tưởng, xúc cảm thị phi tan mất, liền thưa: “Không ai trói buột con”. Ngài Tăng Xán bèn bảo: “Đã không ai trói buột, đâu cần cầu giải thoát”. Ngay đây ngài Đạo Tín đạt ngộ. Ngài đã nhận trở lại tánh hay biết vốn đã sẵn nơi mình từ bao đời nay.

Tổ thứ sáu ở Trung Hoa là ngài Huệ Năng. Khi được Tổ Hoằng Nhẫn truyền dạy Kinh Kim Cang, đến câu “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” nghĩa là “Không trụ nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm. Không trụ vào bất kỳ chỗ nào thì sẽ sinh một cái tâm kỳ đặc”. Khi nghe đến câu này, ngài Huệ Năng bèn đại ngộ. Ngài ngộ ra rằng khi không khởi ý phân biệt đối đãi, không rơi vào thế giới nhị nguyên đối đãi giữa có không, được mất, thiện ác, đẹp xấu, trong ngoài, dài ngắn, trên dưới, vui buồn, thương giận… thì chính là lúc thể nhập vào tánh hay biết, vốn sẵn nơi mình từ bao đời nay, từ đây cần thêm một bước nhảy qua khỏi đầu sào trăm trượng như đã trình bày ở trên để thể nhập vào chơn tâm, Phật tánh. Bài thuyết Pháp đầu tiên của Lục Tổ Huệ Năng là khi ngài nói với Thượng Tọa Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa Minh”, ngay đây Thượng Tọa Minh hoát nhiên đạt ngộ, nhận ra rằng khi không khởi ý phân biệt, không rơi vào thế giới nhị nguyên đối đãi, chỉ hay biết mọi ý niệm tự đến rồi lại tự tan mất, liền ngay đây sẽ thể nhập vào tánh hay biết, từ đây cần thêm một bước nhảy qua khỏi đầu sào trăm trượng như đã trình bày ở trên để thể nhập vào chơn tâm, Phật tánh. Bên cạnh đó, lục Tổ Huệ Năng còn có một câu nói bất hủ khác đó là: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác không kịp”, ngay khi vọng niệm, xúc cảm thị phi vừa dấy khởi, lặp tức hay biết nó, nhìn thẳng vào nó, nó sẽ dần tan, và sẽ liền thể nhập vào tánh hay biết, từ đây cần thêm một bước nhảy qua khỏi đầu sào trăm trượng như đã trình bày ở trên để thể nhập vào chơn tâm, Phật tánh.

Sau Tổ Huệ Năng, là nhiều vị Tổ khác, có cách truyền thừa tương tự như các vị Tổ trước, sử dụng những thủ thuật thiện xảo để giúp đối phương nhận trở lại tánh hay thấy, tánh hay nghe, tánh hay biết vốn sẵn nơi mình từ bao đời nay, chỉ vì do mãi mê chạy theo trần cảnh mà bỏ quên mất. Như khi có người đến hỏi: “Thế nào là đại ý Phật Pháp?”, có vị Tổ trả lời bằng một câu vô thưởng vô phạt “Ba cân gai”, hay “Cây Bách trước sân”, có vị thì thinh lặng không nói một lời với mục đích khiến cho đối phương dứt bặt nghĩ suy, không còn đường suy nghĩ, không rơi vào nhị nguyên đối đãi, phân biệt mà nhận trở lại tánh hay biết nơi mình; hay như có vị Tổ, điển hình là ngài Lâm Tế thường dùng tiếng hét thật lớn để giúp đối phương nhận trở lại tánh hay nghe, ngoài ra ngài còn bất ngờ dùng gậy đánh đối phương để giúp họ nhận trở lại tánh hay biết; hoặc có vị Tổ giơ cây phất tử lên trước mắt đối phương tương tự như đức Phật giơ cành hoa sen lên để giúp đối phương nhận trở lại tánh hay thấy, tánh hay biết vốn sẵn nơi mình.

Đến Việt Nam, sơ Tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã từng tham học nơi ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sơ Tổ đã được chỉ dạy rằng: “Phản quang tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là thường quay vào soi rọi lại tâm tư, không tìm cầu bên ngoài. Lời dạy này cũng tương tự như cách thức khai tâm của các vị Tổ Ấn Độ, và Trung Hoa là quay vào soi rọi lại tâm tư, soi đến đâu vọng tưởng, xúc cảm thị phi tan đến đó, nhờ vậy mà nhận trở lại tánh hay biết vốn sẵn nơi mình từ bao đời nay. Đức Phật thì giơ cành hoa lên, rồi rảo mắt khắp đại chúng xem có ai nhận trở lại tánh hay biết, và tánh hay thấy, chỉ thấy cành hoa sen như nó đang là, không rơi vào phân biệt đối đãi nhị nguyên, còn các vị Tổ thì dùng nhiều phương tiện thiện xảo cũng với mục đích tương tự như vậy.

Sơ Tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông có để lại một bài kệ đong đầy ý nghĩa như sau:

Bản Hán Văn:

“Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.

Bản dịch:

Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không khởi ý phân biệt đối đãi, không rơi vào thế giới nhị nguyên, nhìn chỉ là nhìn như nó đang là, nghe chỉ là nghe như nó đang là, thì ngay đây chính là đang sống với tánh hay thấy, tánh hay nghe, tánh hay biết.

Từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, đến Tổ Huệ Khả, đến ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, và Phật Hoàng Trần Nhân Tông đều dạy chúng ta hãy quay vào soi rọi lại tâm tư mình. Lời dạy này cũng giống như lời dạy của đức Phật trong Kinh Tứ Niệm Xứ. Đức Phật dạy chúng ta hãy quay vào soi rọi lại thân tâm mình bao gồm: quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, và quán pháp vô ngã.

Ngày nay, HT Thích Thanh Từ chính là đã kế thừa truyền thống như thế từ đức Phật, và các vị Tổ Sư đi trước. Ngài dạy mọi người chỉ hay biết vọng tưởng khi chúng vừa dấy khởi, nhìn thẳng vào chúng, chúng sẽ dần tan bởi chúng chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ. Khi chúng tan mất, liền thể nhập vào tánh hay biết. Hoặc một phương pháp khác cũng do HT chỉ dạy là khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không khởi ý phân biệt đối đãi, không rơi vào thế giới nhị nguyên, nhìn chỉ là nhìn như nó đang là, nghe chỉ là nghe như nó đang là thì ngay đây chính là đang sống với tánh hay thấy, tánh hay nghe, tánh hay biết. Tu hành nhận ra các tánh hay thấy, tánh hay nghe, tánh hay biết, vốn chỉ là mặt trăng thứ hai gần kề mặt trăng chân chính, cần thêm một bước vượt qua tâm thái này, nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng cần phải một bước nhảy qua, như khi trèo lên cây một trăm thước, khi trèo lên là còn có cây để trèo, trèo tới đầu sào chót ở trên, phải nhảy qua khỏi mới được, nhảy khỏi cho tan nát tâm phân biệt, chấp trước vi tế, để không rơi vào không, năng giác sở giác đều không, mọi thứ đối đãi dứt bặt, nhảy qua khỏi liền thể nhập vào bản tâm hằng thanh tịnh, rỗng rang, và sáng tỏ, hay còn gọi là chơn tâm, Phật tánh, mặt trăng chân chính, thường hay biết mọi sự vật, hiện tượng nhưng không khởi ý phân biệt, tựa như một tấm gương trong sáng có thể hiện hình rõ ràng mọi cảnh vật sai khác xung quanh mà không một mảy may khởi ý phân biệt, không một chút dính mắc, nhiễm ô.

Như vậy, có thể thấy đường lối tu thiền của trường phái Trúc Lâm Yên Tử hoàn toàn được kế thừa theo tinh thần Thiền Tông được truyền thừa từ thời đức Phật qua các đời Tổ Sư sau này lần lượt ở Ấn Độ, Trung Hoa, và Việt Nam.

————

Ảnh: Internet.

************

Khái niệm về thiền:

Trong một ý niệm giải thích về Thiền, Thiền Sư Vô Ngôn Thông đã phát biểu: Thiền hay Thiền Sư không phải là một cái gì có thể định nghĩa được, như cây thoan lư kia, nhìn thẳng vào đó thì thấy ngay, khỏi cần qua trung gian ngôn ngữ và khái niệm. Thiền là sự tỉnh thức, sự sinh hoạt trong thế giới thực tại, chỉ có thể thể nghiệm mà không thể đàm luận và giảng giải. (VNPG Sử Luận).

Kinh nghiệm thiền tập:

Trước tiên bạn cần nhận thức cái tôi là không thật. Cái tôi chỉ là do vô số các yếu tố khi đủ duyên thì hội tụ thành, khi duyên tiêu tán thì tan mất. Nói tôi vui, tôi buồn, tôi thương, tôi ghét là không thật đúng. Bởi nếu có cái tôi thì khi vui phải vui mãi không ngơi sao có lúc lại nói tôi buồn, hay như khi thương thì phải thương hoài sao có lúc lại nói tôi ghét. Cái tôi chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ. Cái tôi do đó không thật có, thì cái gọi là của tôi cũng không thật.

Khi có nhận thức như vậy, chúng ta sẽ dần vơi giảm ái ngã, vốn dĩ là nguồn gốc của tham, sân, si, của mọi khổ đau trong cuộc đời. Khi có nhận thức về cái tôi như vậy, thì khi có những ý niệm, xúc cảm hỷ nộ ái ố… lăn xăn khởi lên trong tâm tưởng, khi ấy, bạn chỉ cần nhìn thẳng vào chúng. Chỉ cần nhìn, nhìn, và nhìn mà không khởi lên bất kỳ một ý nghĩ nào khác, không tham đắm, không đè nén, không lãng tránh, không cố diệt trừ, cũng không mong cầu bình yên. Nhìn để thấy được các tiến trình sinh khởi, lan tỏa, tăng giảm cường độ, và dần tan biến mất của chúng.

Trong khi tọa thiền, chúng ta nên chú tâm vào một điểm trước mặt, có thể chọn một điểm trên chóp mũi. Trong khi chú tâm như vậy, nếu vọng tưởng, xúc cảm thị phi, và cơn đau có khởi lên nhè nhẹ, chúng ta có thể thản nhiên bỏ qua chúng, đừng để ý đến chúng, vẫn tiếp tục chú tâm tại một điểm trên chóp mũi, chúng có hiện lên rồi sẽ tự tan. Nhưng khi vọng tưởng, xúc cảm thị phi, và cơn đau khởi lên quá mãnh liệt, thì lúc này, chúng ta có thể lùi về một góc chuyển sang theo dõi hơi thở vào ra một cách tự nhiên nơi mũi, đừng bận tâm đến chúng, hoặc chúng ta có thể chuyển sang nhìn thẳng vào chúng, rồi chúng cũng sẽ tan. Khi vọng tưởng thuộc về thế giới nhị nguyên phân biệt đối đãi giữa có không, được mất, trong ngoài, đẹp xấu, thiện ác, vui buồn, thương giận… tan mất, khi đó chỉ còn lại duy nhất niệm vi tế tại chóp mũi, chúng ta cần nên buông xả cả niệm vi tế này, cần thêm một bước vượt qua tâm thái này, nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng cần phải một bước nhảy qua, như khi trèo lên cây một trăm thước, khi trèo lên là còn có cây để trèo, trèo tới đầu sào chót ở trên, phải nhảy qua khỏi mới được, nhảy khỏi cho tan nát tâm phân biệt, chấp trước vi tế, để không rơi vào không, năng giác sở giác đều không, mọi thứ đối đãi dứt bặt, nhảy qua khỏi liền thể nhập vào bản tâm hằng thanh tịnh, rỗng rang, và sáng tỏ, thường hay biết mọi sự vật, hiện tượng nhưng không khởi ý phân biệt, tựa như một tấm gương trong sáng có thể hiện hình rõ ràng mọi cảnh vật sai khác xung quanh mà không một mảy may khởi ý phân biệt.

Từ bản tâm này, bạn có thể phát khởi ra những ý nghĩ, lời nói, và hành động đúng đắn làm lợi lạc cho không chỉ bản thân, mà còn cho cả mọi chúng hữu tình xung quanh.

Niệm tưởng, xúc cảm chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ. Nên khi chúng khởi lên, chỉ cần hay biết, chỉ cần nhìn như vậy, chúng sẽ dần tan.

Có bốn Pháp để bạn thực hành:

– Biết vọng không theo: nhìn với ánh nhìn như trên.

– Đối cảnh vô tâm: vô tâm này là không khởi tâm phân biệt, không rơi vào thế giới nhị nguyên. Do nhận biết cảnh bên ngoài chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ nên liền buông xả, không khởi ý phân biệt. Như nhìn một bông hoa chỉ là nhìn như bông hoa đang là, không khởi ý khen đẹp chê xấu, để không phải khởi lên xúc cảm thích, hay không thích, thương, hay ghét, để không phải khởi lên sân hận khi không được như ý.

– Không kẹt vào hai bên đối đãi: vượt thoát khỏi thế giới nhị nguyên.

– Thường sống với chơn tâm, Phật tánh, hay bản tâm hằng thanh tịnh, rỗng rang, và sáng tỏ, không theo cái giả:

Thấy chỉ là thấy mà không khởi phân biệt
Nghe chỉ là nghe mà không khởi phân biệt
Ngửi chỉ là ngửi mà không khởi phân biệt
Xúc chạm chỉ là xúc chạm mà không khởi phân biệt.

Nếm chỉ là nếm mà không khởi phân biệt
Biết chỉ là biết mà không khởi phân biệt
Sáu căn mắt, tai. mũi, lưỡi, thân ý
Tiếp xúc với sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chỉ là như vậy.

Chỉ là như vậy
Tức là nhận trở lại tánh thấy, tánh nghe, tánh biết… gọi là mặt trăng thứ hai
Ví như ấn tay lên con mắt khi đang nhìn mặt trăng chân chính
Bèn xuất hiện bóng mặt trăng thứ hai lóe ra bên cạnh mặt trăng chân chính
Mặt trăng chân chính còn gọi là chơn tâm, Phật tánh.

Để nhận trở lại
Hòa nhập với chơn tâm, Phật tánh
Cần thêm một bước vượt khỏi tâm thái này – mặt trăng thứ hai
Nhà thiền gọi là nhảy khỏi đầu sào trăm trượng.

Như khi trèo lên cây một trăm mét, trèo lên đầu sào rồi cần phải nhảy khỏi
Nhảy khỏi cho tan nát tâm phân biệt, chấp trước vi tế, để không rơi vào không
Năng giác sở giác đều không, mọi thứ đối đãi dứt bặt
Nhảy khỏi liền thể nhập vào chơn tâm, Phật tánh – mặt trăng chân chính
Từ bản tâm này sẽ thể phát khởi ra bao diệu dụng để làm lợi lạc chân chính.

Tánh hay thấy, tánh hay nghe, tánh hay biết (các tánh này còn được gọi là thức tinh nguyên minh) gần kề cái chân thật (gần kề chơn tâm, Phật tánh, bản giác thường trụ diệu minh, còn được gọi là mặt trăng chân chính), song chưa hoàn toàn thật, ví như mặt trăng thứ hai. Thức tinh nguyên minh tuy chưa phải là chân tâm, vì còn đeo vọng kiến, còn năng giác sở giác, nhưng thật không lìa chân tâm, vốn vẫn tịch thường viên thông. Chính là nguồn sống hằng ngày chúng ta không thể rời, nó lưu lộ ở sáu căn. Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, tuy sáu công dụng khác nhau nhưng đồng một thể tinh minh. Như trong nhà có đèn, ánh sáng tỏa ra khắp các cửa. Cửa có nhiều loại vuông, tròn, rộng, hẹp, cao, thấp. Ánh sáng tỏa ra thành sáu hình sai khác nhưng ở trong nhà chỉ có một đèn. Đêm tối ở xa muốn cầu đèn, cần nương một ánh sáng mà vào. Cũng thế, muốn trở về bản giác thường trụ diệu minh, hay chơn tâm, Phật tánh nên y theo tánh thấy hoặc tánh nghe, hay tánh biết, một trong sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà bội trần hợp giác.

————

TA LÀ AI

12540609_469721149880202_6540203373223392624_n

Ta là ai
Ta là xúc cảm vui, buồn, thương, giận
Hay là ta là ý niệm thiện, ác, phải, quấy
Một câu hỏi cần có câu trả lời.

Nếu ta là xúc cảm
Thì khi vui, khi thương phải vui mãi, thương mãi không ngơi
Sao có lúc lại buồn, lại giận
Như vậy ta không phải là xúc cảm, xúc cảm chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ.

Nếu ta là ý niệm phân biệt
Thì khi nghĩ thiện, nghĩ phải phải nghĩ như thế mãi mãi
Sao có lúc lại nghĩ ác, nghĩ quấy
Như vậy ta không phải là ý niệm, ý niệm chỉ là huyễn hóa, duyên hợp tạm bợ.

Xúc cảm, ý niệm thuộc về thế giới nhị nguyên phân biệt đối đãi
Giữa vui-buồn, thương-giận, thiện-ác, phải-quấy…
Do vậy chỉ cần nhìn thẳng vào chúng, nhìn, chúng sẽ dần tan
Và ta sẽ thể nhập vào chơn tâm, Phật tánh, khi đó ta mới thực sự là chính ta.